Vít bắn tôn vách: chọn đúng size và loại có đệm EPDM
Tóm tắt nhanh:
- Vách nhà xưởng dùng vít ren đơn Ø5.5 × 20/25/30/35 mm có đệm EPDM; lợp mái tôn một lớp loại 11 và 9 sóng dùng Ø5.5 × 40 hoặc 45 mm.
- Vít vách ngắn hơn vít mái vì không phải xuyên chiều cao sóng 20–32 mm của tôn lợp.
- Bản không đệm EPDM dùng cho đai kẹp seam, xà gồ nhẹ lợp mái ngói và khung; vách tôn ốp ngoài trời cần bản có đệm để bịt lỗ khoan trên tấm tôn dày khoảng 0,5 mm.
Vít bắn tôn vách là vít tự khoan ren đơn Ø5.5 mm dài 20–35 mm có đệm cao su EPDM, do Sheh Fung Đài Loan sản xuất và IVIT phân phối, dùng cố định tôn ốp tường vào khung thép. So với vít lợp mái, vít vách ngắn hơn vì không phải đi hết chiều cao sóng tôn 20–32 mm trước khi chạm xà gồ.

Chọn lẫn quy cách giữa vít vách và vít mái gây hậu quả ở cả hai chiều. Lấy vít ren kép 6.3/5.5 × 50 mm — ren trên Ø6.3 mm, ren dưới Ø5.5 mm, dài 50 mm — của mái bắn lên vách thì phần ren thừa chọc ra sau khung và vướng lớp hoàn thiện. Lấy vít vách 20 mm bắn lên mái thì phần bám xà gồ không còn đủ sau khi trừ đệm và tôn.
Vít bắn tôn vách khác vít lợp mái ở ba điểm nào

Điểm khác thứ nhất là chiều cao phải xuyên qua. Vít mái luôn bắt tại đỉnh sóng dương, nên con vít phải đi hết chiều cao sóng rồi mới chạm xà gồ: tôn 11 sóng và 9 sóng cao khoảng 20–22 mm, tôn 7 sóng và 6 sóng khoảng 23–27 mm, tôn 5 sóng khoảng 30–32 mm. Tôn vách thì ngược lại: vít bắt tại chân sóng nằm sát mặt khung nên không phải vượt chiều cao sóng, và chiều dài cần thiết giảm đi đúng phần đó.
Điểm khác thứ hai là hướng của nước. Trên mái, nước chảy qua đầu vít theo phương thẳng đứng và đọng lại quanh chân vít khi mưa lớn. Trên vách, nước tạt ngang và trôi xuống nhanh hơn, nhưng lỗ khoan vẫn là điểm hở nếu không bịt kín. Tấm tôn chỉ dày khoảng 0,5 mm nên lỗ do mũi #3 Point đường kính Ø4,65–4,80 mm tạo ra hoàn toàn phụ thuộc đệm cao su EPDM để làm kín. Vì thế đệm vẫn bắt buộc cho vách, chỉ khác là áp lực nước lên nó nhẹ hơn.
Điểm khác thứ ba là tải trọng. Mái chịu lực hút ngược khi gió bão thổi qua, nên các mái lớn dùng dòng ren kép 6.3/5.5 × L mm — ren trên đường kính Ø6.3 mm, ren dưới Ø5.5 mm, chiều dài L mm: ren dưới khoan êm vào xà gồ, còn ren trên đường kính lớn hơn bám chặt tấm tôn nên giữ tôn tốt hơn trước tải kéo. Với vách, các quy cách ren đơn Ø5.5 × 20–35 mm có đệm là nhóm được chỉ định cho tôn ốp tường.
Chọn chiều dài vít bắn tôn vách theo cấu tạo tường

Vách tôn một lớp bắt thẳng vào khung thép là trường hợp đơn giản nhất. Ở đây vít Ø5.5 × 20 mm bản có đệm EPDM đã đủ, vì chỉ phải xuyên một lớp tôn dày khoảng 0,5 mm rồi ăn vào thép. Chiều dài 20 mm là chiều dài thân vít tính từ đỉnh đầu vít xuống mũi, không tính phần mũ lục giác nhô lên — chi tiết này quyết định khi tính phần ren còn lại ăn vào khung.
Vách nhà xưởng quy mô lớn thường dùng Ø5.5 × 25 mm hoặc Ø5.5 × 30 mm. Đây là hai quy cách được chỉ định cho tôn vách nhà thép xưởng công nghiệp cả quy mô lớn lẫn quy mô nhỏ, và phần chiều dài dôi ra so với size 20 mm giúp vít vẫn ăn đủ ren khi còn khe hở giữa tấm tôn và khung. Bản Ø5.5 × 30 mm còn bắn được tấm nhựa lợp mái dạng phẳng.
Ø5.5 × 35 mm là size dài nhất của nhóm vách ren đơn. Ngoài tôn vách nhà xưởng, quy cách này còn được chỉ định cho đai kẹp tôn seam ở mái có lớp cách nhiệt bông thủy tinh hoặc bông khoáng. Với vách panel cách nhiệt đúc sẵn, chiều dài nhảy hẳn sang dòng vít bắn tôn panel: panel dày 50 mm dùng 6.3/5.5 × 75 mm hoặc 80 mm, panel 75 mm dùng 100 mm, panel 100 mm dùng 120 hoặc 130 mm, panel 130–150 mm dùng 180 mm.
Về khả năng khoan, cả dải ren đơn Ø5.5 mm dùng chung mũi #3 Point nên không phải chọn theo độ dày khung: dải ứng dụng của dòng này là xà gồ thép trung bình 3–4,5 mm. Số liệu kiểm nghiệm cụ thể xem ở phần câu hỏi thường gặp bên dưới.
Bảng tra quy cách vít bắn tôn vách theo từng loại vách

Bảng dưới đối chiếu từng kiểu cấu tạo vách với quy cách vít nên dùng, tình trạng đệm EPDM và lưu ý khi đặt hàng — dùng để chốt nhanh danh mục vít trước khi hỏi báo giá.
Bảng 1: Quy cách vít bắn tôn vách theo cấu tạo tường
| Kiểu vách | Quy cách nên dùng | Đệm EPDM | Mũi khoan | Lưu ý chọn |
|---|---|---|---|---|
| Vách tôn 1 lớp, dân dụng | Ø5.5 × 20 mm | Có | #3 Point | Bản không đệm dùng cho đai kẹp, xà gồ nhẹ lợp mái ngói và khung |
| Vách tôn 1 lớp, nhà xưởng lớn | Ø5.5 × 25 mm | Có | #3 Point | Quy cách chỉ định cho tôn vách nhà thép xưởng |
| Vách tôn 1 lớp, nhà xưởng quy mô lớn và nhỏ | Ø5.5 × 30 mm | Có | #3 Point | Bản này còn bắn được nhựa lợp mái dạng phẳng |
| Vách cần thân vít dài hơn nhóm trên | Ø5.5 × 35 mm | Có | #3 Point | Size dài nhất của nhóm vách ren đơn |
| Vách panel cách nhiệt 50 mm | 6.3/5.5 × 75 hoặc 80 mm | Có | Thunder #3 | Chuyển sang dòng ren kép |
| Vách panel cách nhiệt 75 mm | 6.3/5.5 × 100 mm | Có | Thunder #3 | Vít bắn tôn panel, chọn theo chiều dày panel |
| Vách panel cách nhiệt 100–150 mm | 6.3/5.5 × 120/130/150/180/200 mm | Có | Thunder #3 | Panel 130–150 mm dùng 180 mm; panel 150 mm dùng 200 mm |
Bảng cho thấy ranh giới thật sự nằm ở chỗ có hay không lớp cách nhiệt giữa tôn và khung. Vách tôn bắt thẳng vào khung chỉ cần dải 20–30 mm; vách có lớp đệm giữa đẩy ngay sang 35 mm hoặc sang dòng vít bắn tôn panel. Đây cũng là lý do nên mô tả mặt cắt vách khi hỏi hàng, thay vì chỉ nói diện tích tường.
Về cấp chống ăn mòn, mọi quy cách trên đều có sẵn hai bản: 1.000 giờ phun muối theo ASTM B117 tương ứng AS 3566 Class 3, và 2.000 giờ phun muối tương ứng AS 3566 Class 4. Vách nhà xưởng nội địa khô ráo dùng bản 1.000 giờ phun muối là đủ; vách hướng biển hoặc gần khu vực có hơi hóa chất nên lấy bản 2.000 giờ phun muối.
Câu hỏi thường gặp về vít bắn tôn vách

Vít bắn tôn vách và vít lợp mái có dùng chung được không?
Dùng chung được theo một chiều duy nhất: vít mái dài hơn vẫn bắn được lên vách, chỉ tốn thêm chiều dài và để lộ đoạn ren thừa phía sau khung. Chiều ngược lại thì không: vít vách 20–35 mm bắn lên mái sẽ không còn đủ ren ăn vào xà gồ sau khi trừ chiều cao sóng 20–32 mm cộng đệm và tôn. Cách làm đúng khi công trình có cả mái và vách là tách danh mục thành hai quy cách riêng, vì dùng sai chiều dài làm giảm đoạn ren bám vào xà gồ ở phần mái.
Vít bắn tôn vách có nhất thiết phải có đệm EPDM không?
Có, nếu bắn xuyên qua tấm tôn ốp ra ngoài trời. Đệm cao su EPDM là vòng đệm nằm dưới đầu lục giác, khi siết sẽ ép kín quanh thân vít và bịt lỗ khoan lại. Không có đệm thì nước mưa tạt ngang sẽ len vào lỗ khoan, đọng giữa tôn và khung rồi ăn mòn từ mặt trong nơi không ai nhìn thấy. Bản không đệm vẫn hữu ích nhưng dùng cho việc khác: cố định đai kẹp tôn seam, bắn xà gồ nhẹ đỡ mái ngói và liên kết khung giá bên trong nhà.
Vít bắn tôn vách khoan được thép dày bao nhiêu?
Theo bản vẽ kỹ thuật của Sheh Fung, dải vít ren đơn Ø5.5 mm dùng mũi #3 Point khoan xuyên thép dày 4,5 mm trong thời gian không quá 6,0 giây, thử ở tốc độ 1.800 vòng/phút với tải 27 kg. Trong thực tế thi công, cùng dòng vít này khoan qua thép dày 6 mm được 2 đến 6 lần liên tiếp mà vẫn giữ độ bám. Dải ứng dụng của dòng này là xà gồ thép trung bình 3–4,5 mm nên nằm gọn trong khả năng đó, kể cả khi thợ phải khoan lại một vài điểm bị lệch.
Vách panel cách nhiệt dùng vít gì cho đúng?
Vách panel dùng dòng ren kép ký hiệu 6.3/5.5 × L mm, đọc là ren trên đường kính Ø6.3 mm, ren dưới đường kính Ø5.5 mm, chiều dài L mm; từ 80 mm trở lên dòng này gọi là vít bắn tôn panel. Chiều dài lấy theo công thức chiều dày panel cộng thêm 20–30 mm để có đủ đoạn ren ăn vào khung. Panel dày 50 mm dùng 6.3/5.5 × 75 mm hoặc 80 mm; panel 75 mm dùng 6.3/5.5 × 100 mm; panel 100 mm dùng 6.3/5.5 × 120 hoặc 130 mm. Toàn bộ dải này đều có đệm EPDM theo mặc định.
Vít bắn tôn vách nên dùng khẩu mấy khi bắt?
Khẩu 8 mm cho toàn bộ dải vít bắn tôn ren đơn Ø5.5 mm và cả vít khâu tôn, vì kích thước hai cạnh đối của đầu lục giác nằm trong khoảng 7,78–7,92 mm. Dùng khẩu 10 mm cho nhanh sẽ làm đầu vít xoay tự do trong lòng khẩu, mòn cạnh và trượt khi gặp điểm cứng. Nên chuẩn bị thêm khẩu dự phòng vì mặt trong khẩu mòn dần theo số lượng vít đã bắt, và khẩu mòn làm tăng nguy cơ toét đầu vít trên công trường.
Vách hướng biển có cần cấp chống rỉ cao hơn vách trong đất liền không?
Có. Vách hướng biển hứng sương muối trực tiếp nên dùng bản 2.000 giờ phun muối theo ASTM B117, tương ứng AS 3566 Class 4, thay cho bản 1.000 giờ phun muối tương ứng AS 3566 Class 3. Khoảng cách giữa hai cấp nằm ở chiều dày lớp phủ: bản tiêu chuẩn dày 21–42 μm, bản cao cấp dày 32–70 μm với lớp nano-sealing dày 10–15 μm. Cần lưu ý số giờ phun muối là thử nghiệm gia tốc để so sánh giữa các lớp phủ, không phải số năm sử dụng thực tế trên công trình.
Kết luận và cách chốt danh mục vít vách cho công trình
Vít bắn tôn vách là dòng ren đơn Ø5.5 mm dài 20–35 mm có đệm EPDM, ngắn hơn vít mái vì không phải xuyên chiều cao sóng 20–32 mm. Vách tôn một lớp dân dụng dùng Ø5.5 × 20 mm, vách nhà xưởng dùng Ø5.5 × 25/30/35 mm tùy chiều dài cần thiết, còn vách panel chuyển hẳn sang dòng vít bắn tôn panel 6.3/5.5 × L mm tính theo chiều dày panel cộng 20–30 mm. Bản không đệm EPDM không dùng để bắn thẳng lên tôn ốp ngoài trời. Cả dải quy cách đều có sẵn ở hai cấp 1.000 giờ phun muối và 2.000 giờ phun muối.
Gửi mặt cắt vách gồm loại tôn, có hay không lớp cách nhiệt và độ dày khung thép tới hotline hoặc email của IVIT để được chốt quy cách, số lượng và nhận báo giá kèm CQ theo lô.
- → tổng quan các dòng vít bắn tôn
- → vít tự khoan là gì và khác vít tự ren ra sao
- → vít bắn tôn panel cho vách panel cách nhiệt
- → vít bắn tôn 35mm cho vách và đai seam
- → chọn cấp chống rỉ cho công trình ven biển
Bài viết bởi Đội ngũ kỹ thuật IVIT — nhà phân phối vít Sheh Fung (Đài Loan) tại Việt Nam. Cập nhật: tháng 9/2026.
- Công ty TNHH IVIT
- Địa chỉ giao dịch: số 175A đường C Thủy Nguyên – Khu đô thị Ecopark – xã Phụng Công – Hưng Yên
- Hotline: 0865 21 21 51
- Email: ivitvn2024@gmail.com
- Thời gian làm việc: 8:00 – 18:00 (Thứ Hai – Thứ Bảy)
Gọi ngay — miễn phí, có kỹ thuật viên hỗ trợ.